Trầm cảm là bệnh rối loạn cảm xúc. Dấu hiệu của bệnh trầm cảm đặc trưng bởi cảm giác buồn bã, chán nản, mất động lực trong thời gian dài.

Trầm cảm là bệnh gì?

Trầm cảm là một rối loạn cảm xúc gây cảm giác buồn và mất động lực trong thời gian dài. Bệnh ảnh hưởng đến cảm xúc, tư duy, hành vi của người bệnh và có thể dẫn đến nhiều vấn đề khác về tinh thần lẫn thể chất.

Những cảm xúc tiêu cực kéo dài có thể gây khó khăn trong công việc, làm rạn nứt các mối quan hệ bạn bè hoặc trong gia đình và thậm chí còn có nguy cơ dẫn đến ý định tự tử.

Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cứ 20 người bình thường sẽ có một người đã từng bị một giai đoạn trầm cảm trong năm trước. Mỗi năm trung bình 850.000 người chết vì trầm cảm. Rối loạn trầm cảm không phân biệt giới tính hay độ tuổi, nhưng tỷ lệ mắc chứng trầm cảm ở phụ nữ gấp đôi nam giới. Những người bị trầm cảm có thể đã phải trải qua những biến cố lớn của cuộc đời như: phá sản, thất nghiệp, nợ nần, ly hôn…

Trầm cảm là bệnh, cần được quan tâm và điều trị. Ở bệnh nhân trầm cảm nhẹ, bệnh nhân có thể chưa cần phải dùng đến thuốc và tình trạng không quá nguy hiểm. Nhưng trên hết, người bệnh cần nhận được sự quan tâm của gia đình và người thân và cả bác sĩ để hỗ trợ khắc phục tình trạng này, bởi lẽ, trầm cảm có thể tồi tệ hơn rất nhiều nếu không được điều trị.

Các mức độ của bệnh trầm cảm

Trầm cảm được chia ra 3 mức độ: Nhẹ – Vừa – Nặng

Chẩn đoán bệnh trầm cảm dựa vào 3 triệu chứng đặc trưng và 7 triệu chứng phổ biến.

3 triệu chứng đặc trưng của hội chứng trầm cảm:

  • Khí sắc trầm
  • Giảm năng lượng dẫn đến giảm hoạt động, mệt mỏi
  • Đánh mất sự thích thứ và mọi sự quan tâm

7 triệu chứng phổ biến:

  • Giảm sút lòng tự tin, tính tự trọng
  • Giảm sự chú ý, tập trung
  • Luôn có ý nghĩ bản thân không xứng đáng, cảm giác tội lỗi
  • Rối loạn giấc ngủ
  • Ăn ít, không có cảm giác ngon miệng
  • Luôn nhìn tương lai bi quan, tuyệt vọng

Ngoài ra dựa vào biểu hiện lâm sàng, bác sĩ cũng có thể đánh giá được mức độ trầm cảm:

  • Trầm cảm nhẹ: Được xác định khí có ít nhất 2 triệu chứng đặc trưng của trầm cảm và có ít nhất 2 triệu chứng phổ biến. Thời gian tối thiểu của các triệu chứng phải là 14 ngày (2 tuần), không có bất cứ triệu chứng nào ở mức độ nặng. Bệnh nhân bị trầm cảm nhẹ vẫn tiếp tục các hoạt động lao động, học tập nhưng có thể gặp khó khăn.
  • Trầm cảm vừa: Trầm cảm vừa được xác định có ít nhất 2 triệu chứng đặc trưng và ít nhất 3 triệu chứng phổ biến khác, thời gian tối thiểu của các triệu chứng là 2 tuần. Các triệu chứng có biểu hiện rõ, dễ nhận biết, bệnh nhân khó khăn để tiếp xúc các công việc gia đình, nghề nghiệp và xã hội.
  • Trầm cảm nặng: Bệnh nhân trầm cảm nặng có đầy đủ 3 triệu chứng đặc trưng của bệnh trầm cảm và ít nhất 4 triệu chứng phổ biến khác. Các triệu chứng này kéo dài ít nhất 2 tuần, mức độ triệu chứng nặng và khởi phát nhanh. Một số trường hợp trầm cảm nặng còn có các triệu chứng loạn thần như sững sờ trầm cảm, ảo giác, hoang tưởng,…

Dựa vào những triệu chứng trên và mức độ mà Bác sĩ sẽ phân loại trầm cảm nhẹ, vừa, nặng. Đôi khi họ sẽ mời bệnh nhân làm một số test để hỗ trợ chẩn đoán thêm chính xác. Một dạng trầm cảm khác cũng được quan tâm nhiều là rối loạn trầm cảm sau sinh.

Trầm cảm sau sinh: Trầm cảm sau sinh thường gặp ở các bà mẹ lần đầu sinh con, hoặc những bà mẹ sinh quá nhiều con nhưng thiếu sự hỗ trợ từ gia đình hoặc xã hội. Người mẹ rơi vào tâm trạng lo lắng, thiếu ngủ, cáu gắt, hoặc khóc lóc, có thể khó kiểm soát hành vi, làm đau em bé, hoảng sợ khi con khóc…

Nguyên nhân gây bệnh trầm cảm

  • Sang chấn tâm lý – Nguyên nhân gây trầm cảm phổ biến nhất
  • Sử dụng chất tác động tâm thần, chất gây nghiện
  • Do bệnh thực thể ở não
  • Nguyên nhân nội sinh

Nguyên nhân trầm cảm xảy ra do rối loạn hoạt động của các chất dẫn truyền thần kinh có trong não bộ như Noradrenaline, Serotonin… Nhìn chung, các yếu tố liên quan đến các nhóm sinh học (di truyền, thay đổi chất dẫn truyền ở não…), môi trường (căng thẳng kéo dài, thiếu nguồn lực xã hội…) tâm lý (quá khứ từng có sang chấn….) đều có thể góp phần tăng nguy cơ trầm cảm.

Bệnh trầm cảm có thể gây nên nhiều hệ quả xấu nếu không được điều trị sớm

Đối tượng dễ mắc bệnh trầm cảm

Rối loạn trầm cảm có thể đến với mọi người, tuy nhiên lứa tuổi phổ biến vào khoảng 18-45 tuổi, ngoài ra, độ tuổi trung niên và tuổi già cũng dễ gặp rối loạn này. Đây là nhóm sẽ đối diện với nhiều yêu cầu từ xã hội, và các thay đổi trong cuộc sống (tìm việc làm, kết hôn, sinh con vào độ tuổi vị thành niên, về hưu …). Tuy nhiên, nghiên cứu y khoa thống kê còn rất nhiều đối tượng dễ mắc rối loạn trầm cảm, họ thuộc các nhóm sau:

  • Nhóm người bị sang chấn tâm lý: họ trải qua biến cố lớn, đột ngột của cuộc đời như: phá sản, bị lừa đảo mất hết tiền của, nợ nần, mất đi người thân, hôn nhân đổ vỡ, con cái hư hỏng, áp lực công việc quá lớn…
  • Nhóm phụ nữ vừa sinh con: Đây là giai đoạn nhạy cảm, và nhiều nguy cơ đối với phụ nữ, những thay đổi nhanh chóng về hocmon, vai trò trong gia đình, thay đổi lối sống (thiếu ngủ…) hoặc những bất ổn trong cuộc sống trước đó cũng góp phần làm tăng nguy cơ trầm cảm ở phụ nữ sau sinh.
  • Nhóm học sinh, sinh viên: áp lực học tập quá lớn, thi cử dồn dập, áp lực từ cha mẹ thầy cô, sự đánh giá kết quả học tập.
  • Nhóm người bị tổn thương cơ thể: người bị tai nạn phải cắt bỏ bộ phận cơ thể, chấn thương sọ não, ung thư, mắc bệnh truyền nhiễm nguy hiểm.
  • Nhóm đối tượng lạm dụng rượu bia, chất kích thích trong thời gian dài.
  • Nhóm đối tượng thiếu nguồn lực trong cuộc sống: thiếu các mối quan hệ hỗ trợ, thiếu giao tiếp, thiếu cách ứng phó với stress, hoặc những khó khăn khác: kinh tế, công việc.

Sự nguy hiểm của bệnh trầm cảm

Trầm cảm và các rối loạn tâm thần có khuynh hướng tăng mạnh trong vài chục năm gần đây. Ngoài ra, số lượng ca tử vong do rối loạn trầm cảm cũng tăng lên không ngừng. Ở nước ta, có khoảng 31% trường hợp tử vong có liên quan đến hội chứng trầm cảm và một số dạng rối loạn cảm xúc khác.

Không chỉ làm tăng nguy cơ tự sát (tử vong), bệnh trầm cảm còn khiến người bệnh tự tách biệt với mọi người xung quanh, giảm hiệu suất lao động và học tập. Theo thời gian, bệnh nhân phải đối mặt với những ám ảnh tinh thần nghiêm trọng dẫn đến mất ngủ, mệt mỏi, suy nhược và giảm chất lượng cuộc sống. Những tác động này làm tăng nguy cơ tử vong gián tiếp – đặc biệt là ở bệnh nhân cao tuổi có các bệnh lý nền như tiểu đường, tim mạch, rối loạn tuyến giáp,…

Trầm cảm còn gia tăng tỷ lệ lạm dụng rượu và các chất kích thích. Ngoài những thiệt hại cho chính cá nhân người bệnh, bệnh lý này còn ảnh hưởng đến gia đình và làm tăng gánh nặng cho xã hội. Chính vì những tác hại khôn lường, rối loạn trầm cảm đang rất được quan tâm, nghiên cứu rộng rãi.

Điều trị bệnh trầm cảm

Điều trị tâm lý

Tâm lý trị liệu là phương pháp chữa bệnh trầm cảm nói riêng và giải quyết các vấn đề nói chung với chuyên gia tâm lý, trong y học còn gọi là liệu pháp tâm lý hay liệu pháp nói chuyện. Người mắc bệnh trầm cảm nhẹ hoặc nặng đều có thể điều trị bằng tâm lý trị liệu, việc giải quyết vấn đề tâm lý gây ra trầm cảm là rất quan trọng trong quá trình điều trị bệnh.

Tâm lý trị liệu giúp người bệnh trầm cảm giải quyết nhiều vấn đề như:

  • Học cách đặt mục tiêu thực tế cho cuộc sống.
  • Tìm cách tốt hơn để đối phó và giải quyết vấn đề.
  • Xử lý khủng hoảng và khó khăn trong hiện tại.
  • Xác định các yếu tố nguy cơ gây trầm cảm, nguyên nhân gây trầm cảm.
  • Mở rộng và phát triển các mối quan hệ xung quanh.
  • Phát triển khả năng chịu đựng và chấp nhận đau khổ bằng hành vi lành mạnh hơn.
  • Lấy lại cảm giác hài lòng, kiểm soát cuộc sống tốt hơn, giảm suy nghĩ tiêu cực như tức giận, tuyệt vọng.

Điều trị bằng thuốc

Khi triệu chứng trầm cảm nghiêm trọng, người bệnh có thể cần đến sự hỗ trợ bằng thuốc điều trị sử dụng trong vài tuần hoặc lâu hơn như: thuốc chống trầm cảmthuốc an thần,… việc sử dụng các thuốc điều trị này cần tuyệt đối tuân theo sự chỉ dẫn của bác sĩ để tránh gặp phải tác dụng phụ nghiêm trọng.

Lưu ý: Thuốc chữa trầm cảm có thể gây ảnh hưởng đến thai kỳ, làm tăng rủi ro sức khỏe cho mẹ bầu và thai nhi nên cần tham khảo ý kiến của bác sĩ. Một số nghiên cứu đã chỉ ra, sử dụng thuốc chống trầm cảm có thể làm tăng nguy cơ tự sát, nhất trong trong vài tuần đầu bắt đầu sử dụng thuốc hoặc khi thay đổi liều, do vậy việc theo dõi khi điều trị với loại thuốc này cần thực hiện sát sao.

Thay đổi cách sinh hoạt

  • Chế độ ăn uống hợp lý ngừa trầm cảm: Người bệnh chế độ ăn uống hợp lý, tập trung vào các thực phẩm giàu Omega 3, khoáng chất, vitamin và chất chống oxy hóa. Với trường hợp bị trầm cảm do nguyên nhân nội sinh, nên cho bệnh nhân sử dụng các loại thực phẩm có khả năng tăng tuần hoàn máu và cải thiện tâm trạng.
  • Hạn chế sử dụng thuốc lá, rượu bia và chất kích thích
  • Tập thể dục đều đặn
  • Tránh thức đêm, không lệ thuộc quá nhiều thiết bị điện tử, mạng internet và các ứng dụng mạng xã hội
  • Phát triển các mối quan hệ xã hội lành mạnh.

Ngoài ra người thân, bạn bè của người bệnh nên giúp người bệnh tăng khả năng ứng phó trước những áp lực từ cuộc sống, các vấn đề mà bản thân họ gặp phải. Đồng thời cải thiện nhân thức và giúp người bệnh nâng cao giá trị của bản thân.